Vợ chồng cùng làm vua

Trong lịch sử các triều đại phong kiến ở Việt Nam, trường hợp vợ chồng thay nhau làm vua thì duy nhất chỉ có một – đó là Lý Chiêu Hoàng và Trần Cảnh, tức vua Trần Thái Tông. Trần Thái Tông là vị vua mở đầu nhà Trần, tên húy là Cảnh và ông còn có tên khác là Bồ, trong thư từ bang giao với nhà Nguyên thường xưng là Quang Bính. Ông sinh ngày 16 tháng 6 năm Mậu Dần, là con thứ của Trần Thừa, người hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường (nay thuộc huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định), vốn nhiều đời làm nghề đánh cá và thời ấy đã là một gia tộc có thế lực trong vùng. Trần Thái Tông làm vua từ năm Ất Dậu (1225) đến tháng 2 năm Mậu Ngọ (1258), ở ngôi 33 năm.

Sách “Đại Việt sử ký toàn thư” có đoạn chép rằng: Sau khi Chiêu Thánh nối ngôi (năm 1224), khi ấy Trần Thủ Độ đã giữ chức Điện tiền chỉ huy sứ, là người trông coi mọi việc quân sự trong, ngoài thành nên đã đưa các cháu trai vào giữ nhiều chức trong nội cung. Trần Cảnh khi mới 8 tuổi đã được giao giữ chức Chi hậu chính chi ứng cục. Chiêu Hoàng thích viên quan hầu cận này nên thường cho gọi vào cung cùng chơi… Với bản lĩnh chính trị già dặn, Thủ Độ biết rằng đây là một cơ hội vô cùng quan trọng, hoặc “họ ta thành hoàng tộc hay sẽ bị diệt tộc!”.

Năm 1225, dưới bàn tay đạo diễn tài ba của Thái sư Trần Thủ Độ và bà Trần Thị Dung, cuộc hôn nhân giữa Lý Chiêu Hoàng và Trần Cảnh đã được tổ chức. Và rất chóng vánh, cuộc chuyển giao quyền lực giữa nhà Lý sang nhà Trần diễn ra vài tháng sau đó, bằng việc Lý Chiêu Hoàng trút bỏ hoàng bào, xuống chiếu truyền ngôi cho chồng. Chiếu truyền ngôi có đoạn viết như sau:…Nay trẫm suy đi tính lại một mình, duy có Trần Cảnh là người văn chất vẹn toàn, thực là thể cách hiền nhân quân tử, uy nghi chễm chệ, có tư chất thánh thần văn võ, dù đến Hán Cao tổ, Đường Thái Tôn cũng không hơn được…Trẫm sớm tối nghĩ kỹ, xét nghiệm từ lâu, nên nhường ngôi báu để thuận lòng trời, để không phụ lòng trẫm…

Xem thêm:  Suy nghĩ về ý kiến: Lao động là đôi cánh của ước mơ, là cội nguồn của niềm vui và sáng tạo

Trần Cảnh sau khi nhận chiếu nhường ngôi của vợ lên làm vua, cũng là thay đổi cả một triều đại, từ nhà Lý chuyển sang nhà Trần. Từ ngôi vị vua, Chiêu Thánh trở thành hoàng hậu. Và đây cũng chính là lý do khiến vua bà Chiêu Hoàng không được thờ trong tôn miếu nhà Lý.

Sử sách chép rằng, Trần Thủ Độ “ép duyên” vua Trần Thái Tông, buộc vua phế truất Chiêu Hoàng, giáng làm công chúa để “cướp vợ” anh trai là công chúa Thuận Thiên, cũng là chị ruột của vợ, lúc đó đã có thai ba tháng “để nhận lấy chỗ dựa về sau”, thì vị vua trẻ đa cảm đã không chịu nổi sự tổn thương tinh thần.

Trần Cảnh đối với Lý Chiêu Hoàng “nghĩa nặng tình sâu”, với suy nghĩ phế bỏ hoàng hậu dù vì những lý do cao cả nào thì vẫn là bất cận nhân tình. Chọn ông, Chiêu Hoàng đã mất cả giang sơn, họ tộc, thế mà giờ đây lại để bà trắng tay, chỉ còn một nước chưa phải vào lãnh cung nên Trần Cảnh bỏ chạy khỏi kinh thành. Sách “Đại Việt sử ký toàn thư” chép: Vua trong lòng áy náy, ban đêm ra khỏi kinh thành đến chỗ quốc sư Phù Vân (quốc sư là bạn cũ của Thái Tông) trên núi Yên Tử rồi ở lại đó. Khi đó, Trần Cảnh lấy cớ “không dám giữ ngôi vua mà làm nhục xã tắc” để trút bỏ ngai vàng, nhưng lời khuyên của đại sư Trúc Lâm: Phàm đã là bậc nhân quân tất phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tấm lòng của thiên hạ làm tấm lòng của mình. Nay muôn dân đã muốn đón bệ hạ về thì bệ hạ không về sao được…

Xem thêm:  Nghị luận xã hội về đức hi sinh của cha mẹ

Và đại sư Trúc Lâm đã buộc Trần Cảnh phải trở về kinh thành. Sự trở về của ông cũng chính là một bước ngoặt trong tư tưởng và trong cuộc đời của vị vua này. Và việc làm của Trần Cảnh khi đó đã thể hiện rõ chủ kiến của mình, đồng thời chứng tỏ bản lĩnh thoát khỏi sự sắp đặt của Trần Thủ Độ như trước đây.

Lời bàn:

Năm Đinh Tỵ – 1257, vua Trần Thái Tông cùng triều đình nhà Trần lãnh đạo quân – dân Đại Việt đánh thắng quân Nguyên Mông xâm lược lần thứ nhất và để lại mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc. Trần Thái Tông quả là người có tính cách đặc biệt. Lúc làm tướng, đánh giặc thì anh dũng “xông vào mũi tên hòn đạn”, khi làm vua thì “phú quý không đủ làm trọng” và ông cũng sẵn sàng từ bỏ ngai vàng không chút luyến tiếc. Đối với xã tắc, vua Trần Thái Tông có nhiều đóng góp khiến sử sách phải ghi nhận là một vị “Vua khoan nhân đại độ, có lượng đế vương, cho nên có thể sáng nghiệp truyền dòng, lập kỷ dựng cương, chế độ nhà Trần thực là to lớn vậy” (Đại Việt sử ký toàn thư).

Vua sáng thì ắt có tôi hiền, dưới sự trị vì của ông trong triều đình tất thảy đều là những vị đại thần hiền tài nên vào thời ấy, chính trị, văn hóa, tôn giáo của nước Đại Việt đều đạt đến cực thịnh. Chính ông cũng là người chuyên tâm nghiên cứu Phật học và sùng mộ đạo Phật nhưng không xem thường cái học của các trường phái khác. Có thể khẳng định rằng, Trần Thái Tông là vị vua không những có tài thao lược mà còn là một nhà thiền học, một triết gia và ông có những tư tưởng sâu sắc, độc đáo về hai lĩnh vực này. Chính vì vậy, tên tuổi, cuộc đời, sự nghiệp cùng những công lao và các trước tác của ông sẽ trường tồn cùng năm tháng và dân tộc.

Theo Tapchivanhoc.com

Check Also

7142 1494911290049 1014 310x165 - Tổ quốc trên hết

Tổ quốc trên hết

Theo sách “Danh nhân đất Quảng”, năm 1916, bà Hoàng Thị Tòng từ Hàng Châu …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *