Phân tích thơ Hai- cư của Ba-sô – Bài văn của Thu Trang chuyên văn Nguyễn Huệ

Phân tích thơ Hai- cư của Ba-sô – Bài văn của Thu Trang chuyên văn Nguyễn Huệ

Hướng dẫn

Đề bài: Hai-cư là thể thơ truyền thống của Nhật Bản, trong đó Ba-sô nổi bật lên là tác giả hàng đầu với hàng loạt sáng tác hay và có giá trị. Dựa vào những bài thơ Hai-cư được học trong sách giáo khoa, anh chị hãy phân tích thơ hai-cư của Ba-sô.

I. Dàn ý chi tiết cho đề phân tích thơ Hai-cư

1. Mở bài

Giới thiệu về thơ Hai-cư của Ba- sô: Nhắc đến Hai-cư là nói đến một thể loại thơ ca truyền thống của đất nước mặt trời mọc. Ma-su-ô Ba-sô là một nhà thơ bậc thầy về thơ Hai-cư, vốn xuất thân trong một gia đình dòng dõi võ sĩ đạo Sa-mu-rai của xứ I-ga.

2. Thân bài

-Giới thiệu bố cục của thơ Hai-cư: Ba dòng hay ba đoạn của thơ Hai-cư có những chức năng khác nhau, cụ thể là: dòng thứ nhất thường là giới thiệu, dòng thứ hai là tiếp tục ý thơ của dòng thứ nhất và chuẩn bị cho dòng thứ ba, cuối cùng dòng thứ ba là kết lại tứ thơ

-Nêu các nội dung đề cập tới trong thư Hai-cư: Chính vì thế mà thơ Hai-cư bao giờ cũng mang nội dung liên quan đến thiên nhiên, đồng thời đưa ra những triết lí về thiên nhiên

-Nỗi niềm cảm nhận và cảm xúc của nhà thơ trong các bài thơ Hai-cư: Trong bài thơ thứ nhất, nội dung là nỗi cảm của Ê-đô (Tô-ky-ô) ngày nay, đã mười năm nhà thơ sống sổng ở nơi đây, có lần ông trở về quê cha đất tổ nhưng không thể nào quên được Ê-đô

Xem thêm:  Bình luận về ý thơ của Tố Hữu Ôi! Sống đẹp là gì hỡi bạn | Văn mẫu

3. Kết bài

Ý nghĩa của bài thơ: Đối với ông khát vọng sống không phải để hưởng thụ là mà để thực hiện sở thích của mình. Bài thơ đã nói lên mục đích của cuộc sống, đồng thời nhắc đến sứ mệnh của thi nhân

II. Bài tham khảo cho đề phân tích thơ Hai-cư

Nhắc đến Hai-cư là nói đến một thể loại thơ ca truyền thống của đất nước mặt trời mọc. Đây là thể thơ ngắn nhất thế giới, chỉ có 17 âm tiết và trong ngôn ngữ Nhật Bản 17 âm tiết đó được viết thành một hàng. Ma-su-ô Ba-sô là một nhà thơ bậc thầy về thơ Hai-cư, vốn xuất thân trong một gia đình dòng dõi võ sĩ đạo Sa-mu-rai của xứ I-ga.

Ba dòng hay ba đoạn của thơ Hai-cư có những chức năng khác nhau, cụ thể là: dòng thứ nhất thường là giới thiệu, dòng thứ hai là tiếp tục ý thơ của dòng thứ nhất và chuẩn bị cho dòng thứ ba, cuối cùng dòng thứ ba là kết lại tứ thơ, thông thường nó sẽ không bao giờ đủ ý mà sẽ mở ra những suy tư cảm xúc cho người đọc. Trong mỗi bài thơ Hai-cư đều phải có quý ngữ – ấy nghĩa là từ chỉ mùa, nhằm thể hiện một khoảnh khắc của cảnh vật và cao trào, đỉnh điểm của cảm xúc. Chính vì thế mà thơ Hai-cư bao giờ cũng mang nội dung liên quan đến thiên nhiên, đồng thời đưa ra những triết lí về thiên nhiên.

Xem thêm:  Bình giảng 8 câu thơ đầu bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu

Trong bài thơ thứ nhất, nội dung là nỗi cảm của Ê-đô (Tô-ky-ô) ngày nay, đã mười năm nhà thơ sống sổng ở nơi đây, có lần ông trở về quê cha đất tổ nhưng không thể nào quên được Ê-đô. Mười mùa sương ý chỉ tâm hồn lạnh giá của kẻ xa quê, vậy mà khi về quê ông lại nhớ đến Ê-đô, cho thấy tình yêu quê hương và đất nước trong ông đã hòa quyện thành một. Còn bài thơ thứ hai, nhắc đến Ki-o-to, là nơi Ba-sô đã sống thời trẻ, hoàn cảnh sáng tác bài thơ là khi ông trở về thăm nơi này sau hai mươi năm được nghe tiếng chim đỗ quyên hót. Đây là loài chim báo hiệu mùa hè tới, đó cũng chính là tiếng lòng khắc khoải gọi những kỉ niệm tuổi trẻ ùa về. Tác giả Ba-sô đã gây ấn tượng đấy lãng mạn.

Tới bài thơ thứ ba, hình ảnh mớ tóc bạc di vật của mẹ, Ba-sô đã rưng rưng nước mắt khi cầm chúng trên tay, xót thương vì mẹ không còn nữa, “làn sương thu” đã gợi trong lòng nhà thơ nỗi trống trải khi công sinh thành dưỡng dục chưa báo đáo được. Bài thơ thứ tư là một nỗi buồn nhân thế, khi cha mẹ quá nghèo không thể nuôi con, đem con vào rừng sâu. Tiếng vượn hú não nề, tiếng thẻ tha khóc vì gia cảnh quá nghèo, nỗi buồn làm cho giá trị nhân đạo đẩy lên đỉnh cao trong thơ của Ba-sô. Bài thơ năm là vẻ đẹp khát vọng trong lòng nhà thơ, vẻ đẹp tâm hồn lấp lánh giá trị nhân đạo hiện thực. Hình ảnh cánh hoa anh đào rơi lả tả trong bào thơ sáu báo hiệu mùa xuân Nhật Bản đã qua, mang trong mình mối tương quan giao hóa. Rồi tới bài thơ bảy lại có “tiếng ve ngân, đặc trưng mùa hè, câu thơ như chìm đắm trong cảm nhận sâu sắc trong cái tình của con người với thiên nhiên.

Xem thêm:  Phân tích bài thơ Cảnh ngày hè

Bài thơ cuối cùng, đã nói tới bản chất của Ba-sô, ông thích lãng du, chẳng còn gì quan trọng khi đã gần đất xa trời. Đối với ông khát vọng sống không phải để hưởng thụ là mà để thực hiện sở thích của mình. Bài thơ đã nói lên mục đích của cuộc sống, đồng thời nhắc đến sứ mệnh của thi nhân.

Theo Tapchivanhoc.com

Check Also

7142 1494911290049 1014 310x165 - Soạn bài Ôn tập phần làm văn lớp 10 hay đầy đủ nhất

Soạn bài Ôn tập phần làm văn lớp 10 hay đầy đủ nhất

Ôn tập phần làm văn lớp 10 là bài tổng hợp các kiến thức văn …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *