Giới thiệu một lễ hội ghi lại những nét đẹp của phong tục truyền thống – BÀI VIẾT SỐ 5 LỚP 10 ĐỀ 4

Mỗi người con đất Việt chúng ta có quyền được tự hào về lịch sử của dân tộc mình, bởi đó là những trang vàng mang màu chói lọi. Lịch sử của dân tộc ta được tạo dựng nên từ máu và nước mắt, từ gian khổ và hi sinh. Ngay từ thời vua Hùng, mười tám đời vua thay nhau trấn giữ non sông, giữ cho nước Đại Việt được nguyên vẹn, đó đã là một ơn đức lớn. Bởi vậy mà giờ đây, người ta thường hoài niệm về quá khứ, không phải để thương xót, đau khổ mà là để biết ơn, để hướng về tương lai. Các lễ hội cũng vì thế được tổ chức hàng năm, như một dịp để mỗi người bày tỏ lòng thành kính, được thắp nén nhang hướng về tổ tiên. Lễ hội chính là hình thức văn hóa đặc sắc nhất mà mỗi chúng ta đều có quyền được hướng tới để tự hào. Viết một bài văn giới thiệu về lễ hội, chúng ta cần cho người đọc hiểu rõ đó là lễ hội gì, có lịch sử từ bao giờ, được tổ chức ở đâu? Phần lễ như thế nào và phần hội như thế nào? Có như thế, bài văn của chúng ta mới đầy đủ và đạt yêu cầu. Chúc các bạn thành công!

BÀI VĂN MẪU SỐ 1 BÀI VIẾT SỐ 5 LỚP 10 ĐỀ 4 GIỚI THIỆU MỘT LỄ HỘI GHI LẠI NHỮNG NÉT ĐẸP CỦA PHONG TỤC TRUYỀN THỐNG HOẶC THỂ HIỆN KHÍ THẾ SÔI NỔI CỦA THỜI ĐẠI LỚP 10

  • Dù ai đi ngược về xuôi
  • Nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng ba

Là một người con đất Việt, có lẽ không ai trong số chúng ta có thể rời bỏ cội nguồn, rời bỏ tổ tiên mình. Chúng ta luôn dành một ngày để nhớ về họ với tấm lòng thành kính nhất. Và nhớ về những vị vua Hùng đã có công dựng nước, chúng ta lại đến với lễ hội đền Hùng nơi Phú Thọ xa xôi.

Mỗi năm, cứ vào ngày mồng 10 tháng 3 âm lịch, cả nước lại nô nức hướng về mảnh đất Phú Thọ – nơi đang thờ cúng các vị vua hùng của dân tộc. Trên mảnh đất Phú Thọ ấy diễn ra lễ hội đền Hùng để nhân dân cả nước trở về thắp nhang tưởng nhớ và cũng là hòa lòng mình vào lòng dân tộc. Tục lệ thờ vua Hùng đã đi từ thời nhà Đinh, nhà Tiền Lê rồi đến cả Hậu Lê. Các triều đại phong kiến ấy, cũng đã một phần hiểu ra tầm quan trọng của việc thờ cúng các vị tổ tiên. Và đến chúng ta ngày nay, hàng trăm năm trôi qua, nghi thức ấy vẫn không hề thay đổi mà được phát triển rộng rãi hơn. Lễ hội đền Hùng của chúng ta đã được UNESCO công nhận là “kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại”, có lẽ cũng bởi ý nghĩa đặc biệt của nó.

Cũng giống như những lễ hội truyền thống ngàn đời của dân tộc Việt Nam, lệ hội đền Hùng cũng gồm có phần lễ và phần hội. Phần lễ trang trọng uy nghiêm bao nhiêu thì phần hội lại sôi động náo nhiệt bấy nhiêu. Hoạt động chính trong phần hội là lễ diễu hành hay còn gọi là lễ rước kiệu. Có lẽ đây là lúc phần hồn của dân tộc Việt Nam được thể hiện đậm đà nhất. Những chiếc kiệu được dựng lên để rước từ chân núi Nghĩa Linh đến ngôi đền thờ. Đó như một lời vinh danh, cảm tạ các vị vua Hùng đã dựng nên nước non Đại Việt. Những sắc màu xanh, đỏ, vàng bao trùm lên cả lễ rước kiệu, là màu của thành kính, hoài niệm, cũng là màu của hi vọng hướng về tương lai. Từng đoàn người đi dưới chân kiệu, như những đứa con về lại với đất tổ thân yêu. Mùi nhang lan tỏa khắp chốn làm lòng người cũng có lúc phải chừng lại. Trước nơi đây, Việt Nam đã ra đời, con người được khai sinh. Lễ rước kiệu ấy, như lời khẳng định với thế hệ trẻ: dân tộc chúng ta có truyền thống, có những nét văn hóa mà nhiệm vụ của mỗi người là phải bảo tồn và phát huy nó. Tiếng nói của trách nhiệm, của ý thức cũng từ đó mà dâng lên.

Xem thêm:  Soạn bài Hiền tài là nguyên khí của quốc gia lớp 10 hay đầy đủ nhất

Phần lễ với những trang nghiêm thành kính qua đi, cả dòng người lại hòa mình vào phần hội. Sẽ không thể thiếu những tiết mục văn nghệ ngoài trời với đủ các loại hình nghệ thuật như diễn kịch, ca trù, cải lương hay múa rối nước. Tất cả đều gợi lại một khí thế hào hùng của cả dân tộc mà chúng ta đã từng gây dựng nên. Bên cạnh đó là những hoạt động vui chơi đậm màu sắc dân gian như thi gói bánh chưng, thi nấu cơm hay thi hát. Nổi bật nhất có lẽ là những màn đấu cờ và chọi gà. Nó thể hiện được rõ nhất bản sắc của dân tộc Việt, với những gì bình dị và thân thương nhất. Lễ hội đền Hùng rồi cũng sẽ đến lúc khép lại, chỉ cần trong lòng chúng ta vẫn giữ trọn một tấm lòng thành kính, hướng về tổ tiên.

Không phải ngẫu nhiên mà người ta gọi ngày mồng 10 tháng 3 là ngày “quốc lễ’, bởi tự thân nó phải mang những giá trị nhất định. Đến với vùng đất Phú Thọ ấy, ta mói thấy rằng, thì ra con người Việt Nam vẫn còn giữ được lòng thành kính đến thế, thì ra vẫn còn một dân tộc yêu thương nhau đến như vậy. Hướng về lễ hội đền Hùng là hướng về quá khứ, nhưng cũng là dịp để cả dân tộc đồng lòng trở lại. Trong thời khắc đất nước đã hòa bình, một dân tộc vẫn cần sự đoàn kết để sẵn sàng vượt qua gian khổ nếu cần, sẵn sàng cùng nhau dựng xây đất nước. ý nghĩa to lớn nhất của lễ hội đền Hùng, có lẽ cũng chỉ nằm ỏ điều ấy.

  • Các vua Hùng đã có công dựng nước
  • Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước

Thiết nghĩ, một dân tộc có đủ bản lĩnh để tồn tại hay không, có lẽ cũng một phần nằm ở việc, có giữ gìn được những lễ hội đậm nét truyền thống hay không!

Xem thêm:  Em giải thích nội dung lời khuyên của Lê-nin: Học! Học nữa! Học mãi!

BÀI VĂN MẪU SỐ 2 GIỚI THIỆU MỘT LỄ HỘI GHI LẠI NHỮNG NÉT ĐẸP CỦA PHONG TỤC TRUYỀN THỐNG HOẶC THỂ HIỆN KHÍ THẾ SÔI NỔI CỦA THỜI ĐẠI LỚP 10

Là người con Việt Nam, chắc hẳn tuổi thơ của mỗi người đều say mê với những câu chuyện dân gian. Ta thích thú với truyền thuyết Thánh Gióng gắn liền với cuộc chiến đấu chống giặc Ân của nhân dân ta. Sau này, để tưởng nhớ công lao của người anh hùng Thánh Gióng mà người dân đã lập đền thờ. Hội Gióng mỗi năm diễn ra một lần còn là sự tái hiện khí thế của cả một thời đại.

Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc gắn với truyền thuyết về một cậu bé được mẹ sinh ra một cách kỳ lạ ở làng Phù Đổng. Khôi ngô, tuấn tú nhưng lên 3 mà vẫn chưa biết nói, biết cười, suốt ngày cậu chỉ nằm trong thúng treo trên gióng tre, vì thế được đặt tên là Gióng. Vậy mà khi nghe thấy lời kêu gọi của nhà Vua tìm người tài giỏi đánh giặc ngoại xâm, Gióng bỗng lớn nhanh như thổi, rồi xung phong ra trận cứu nước, cứu dân. Sau khi dẹp tan quân giặc, ngài về núi Sóc rồi cưỡi ngựa bay lên trời. Từ đó, ngài Gióng được thiêng hóa thành một vị Thánh bất tử bảo hộ mùa màng, hòa bình cho đất nước, thịnh vượng cho muôn dân. Để tưởng nhớ công ơn của ngài, người dân lập đền, thờ phụng và mở hội hằng năm với tên gọi là Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc. Đó là một trong những lễ hội lớn nhất vùng châu thổ Bắc Bộ, tổ chức theo một nghi thức được quy định chặt chẽ, chuẩn bị hết sức công phu, với sự tham gia đông đảo của dân làng quanh khu vực hai đền

Hội Gióng ở đền Phù Đổng, xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm – nơi sinh Thánh Gióng diễn ra từ ngày 7 đến ngày 9 tháng 4 Âm lịch, và Hội Gióng ở đền Sóc ở xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn (nay thuộc Hà Nội) – nơi Thánh hóa diễn ra từ ngày 6 đến ngày 8 tháng giêng. Hội Gióng Phù Đổng có dàn vai diễn: các ông “Hiệu”, hệ thống tướng lĩnh của Ông Gióng: “Phù Giá”,đội quân chính quy; các “Cô Tướng”, tượng trưng các đạo quân xâm lược; Phường “Ải Lao”, trong đó có “Ông Hổ”,đội quân tổng hợp; “Làng áo đỏ”, đội quân trinh sát nhỏ tuổi; “Làng áo đen”,đội dân binh v.v…Cũng như các đạo cụ, y phục, mỗi một chương mục, mỗi một vai diễn đều chứa đựng những ý nghĩa hết sức sâu sắc. “Dước khám đường” là trinh sát giặc; “Rước nước” là để tôi luyện khí giới trước khi xuất quân; “Rước Đống Đàm” là đi đàm phán kêu gọi hoà bình; “Rước Trận Soi Bia” là mô phỏng cách điệu trận đánh ác liệt. Trong trận này, roi sắt gãy, ông Gióng phải dùng tre đằng ngà,một vũ khí tượng trưng sức mạnh nội lực của dân tộc. Cờ phướn màu đỏ mà trên đó viết chữ “Lệnh” tôn nghiêm cùng với các động tác múa cờ Lệnh của ông Hiệu Cờ (vai diễn tượng trưng Ông Gióng) là biểu đạt một số quan điểm cơ bản của phép luỵện quân cùng phương pháp tác chiến để giành thắng lợi. Đó là “Quân lệnh phải nghiêm minh” “Binh pháp phải mưu lược sáng tạo” (Múa cờ thuận và múa cờ nghịch). Phù giá ngoại (đội hình có tới 120 người) là những vai diễn đóng khố, cởi trần, đầu đội mũ có hình quả dưa, trên có đính chín con rồng nhỏ, tượng trưng cho Đất, vai đeo một túi “bán nguyệt” có hình nửa vầng trăng, tượng trưng cho Trời, tay cầm chiếc quạt giấy màu nâu khắc cụp, khắc xòe theo khẩu lệnh của ác ông “Xướng” và “Xuất”, tượng trưng cho một loại vũ khí có sức biến ảo khôn lường. Trong lễ hội có 28 cô gái trẻ đóng vai tướng giặc, tượng trưng cho 28 đạo quân xâm lược nhà Ân. Còn các màn rước lễ “Kén tướng”, “Kén Phù Giá”, và màn diễn “Săn hổ, bắt hổ, giúp hổ hoá thân”, có thể suy ngẫm về quan điểm thảm mỹ và đạo lý ứng xử truyền thống v.v … Lễ hội Gióng Phù Đổng cũng có nhiều màn hát chèo để mừng thắng trận.

Xem thêm:  Bình luận bài thơ Đò Lèn của Nguyễn Duy

Hội Gióng ở đền Sóc diễn ra trong 03 ngày từ mùng 6 đến mùng 8 tháng giêng hằng năm. Việc chuẩn bị vật tế lễ cũng hết sức công phu, nhất là việc đan voi (theo truyền thuyết thì đoàn quân tham gia đánh giặc cùng Thánh Gióng có cả đàn voi chở lương thực đi theo) và làm giò hoa tre (tượng trưng cho gậy tre của Thánh Gióng sau khi đánh giặc), nên phải tiến hành từ nhiều tuần lễ trước Lễ hội.

Hội Gióng là một lễ hội văn hóa cổ truyền mô phỏng rõ một cách sinh động và khoa học diễn biến các trận đấu của thánh Gióng và nhân dân Văn Lang với giặc Ân. Thông qua đó có thể nâng cao “nhận thức cộng đồng về các hình thức chiến tranh bộ lạc thời cổ xưa và liên tưởng tới bản chất tất thắng của cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện trong sự nghiệp giải phóng và bảo vệ Tổ quốc”

Nguồn Internet

Check Also

7225 1494911290059 1017 310x165 - Soạn bài Ôn tập phần làm văn lớp 10 hay đầy đủ nhất

Soạn bài Ôn tập phần làm văn lớp 10 hay đầy đủ nhất

Ôn tập phần làm văn lớp 10 là bài tổng hợp các kiến thức văn …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *