Dã tâm

Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, thời trị vì của Lý Thánh Tông, vua tôi nhà Tống đã có ý nhòm ngó Đại Việt. Nhưng lúc này họ còn ngại Đại Việt đang cường thịnh, nội bộ lại đoàn kết. Đến khi biết nội tình Đại Việt có nhiều xáo trộn trong cuộc đổi ngôi, vua mới còn nhỏ thì vua Tống Thần Tông mới hạ quyết tâm. Các quan chức Tống đoán biết ý, đã xàm tấu với vua Tống rằng: Giao Chỉ vừa đánh Chiêm Thành bị thất bại, quân không còn nổi một vạn, có thể lấy quân Ung Châu sang chiếm Giao Chỉ.

Vua Tống cho mời viên Tri châu Quế là Tiêu Chú để bàn về việc đánh Đại Việt. Tiêu Chú vốn là người thông hiểu tình hình Đại Việt. Tuy trước đây, y rất hiếu chiến nhưng biết tình thế đã thay đổi nhiều nên khi đó y tỏ ra rất thận trọng. Tiêu Chú đã tâu rằng: Xưa thần cũng có ý ấy. Bấy giờ quân khê động một người ta có thể địch mười; khí giới sắc và cứng; người thân tín thì tay chỉ, miệng bảo là điều khiển được. Nay hai điều ấy không như trước; binh giáp không sẵn sàng, người tin chết quá nửa. Mà người Giao Chỉ lại sinh tụ, giáo hối đã mười lăm năm rồi. Bây giờ, nói quân Giao Chỉ không đầy một vạn thì sợ sai.

Vua Tống không thích lời tâu này. Lại thêm có viên Hình Bộ lang trung Thẩm Khởi tâu: Giao Chỉ là đồ hèn mọn. Không lý gì không lấy được. Vua Tống hài lòng với lời tâu hiếu chiến ấy, bèn giao cho Thẩm Khởi làm Quảng Tây kinh lược sứ. Thẩm Khởi được phép tự tiện hành sự trước rồi tâu sau, lo chuẩn bị cho chiến tranh. Thẩm Khởi nhân đó mà chuyên quyền. Qua việc bổ nhiệm Thẩm Khởi, vua Tống đã thể hiện rõ ý định xâm lược. Vua tôi nước Tống bàn nhau: Nếu thắng, thế Tống sẽ tăng, các nước Liêu Hạ sẽ phải kiêng nể…

Xem thêm:  Chuyện về Cao Bá Quát

Để thực hiện tham vọng xâm lược, nước Tống có nhiều nước đi chuẩn bị kỹ lưỡng. Về hậu cần lực lượng, ba thành nằm trên đường tiếp vận của quân Tống sang biên giới Đại Việt là Ung Châu, Khâm Châu, Liêm Châu đã trở thành những nơi tích trữ lương thảo, khí giới, mộ tân binh để huấn luyện. Quế Châu cũng được lệnh tăng cường mộ binh trữ lương, huấn luyện quân sĩ, trưng thu thuyền buôn làm thuyền chiến. Toàn lộ Quảng Tây nước Tống có đến hàng vạn tân binh được tuyển, tập trung huấn luyện ở các thành trì. Triều đình Tống dự định sẽ gom số tân binh nam Tống và bắc Tống tấn công Đại Việt.

Để yên ổn ở biên thùy phía Bắc, rảnh tay ở phía Nam, vua Tống đã theo lời Vương An Thạch chấp nhận cắt đất 700 dặm ở Hà Đông cho nước Liêu. Vương An Thạch cũng lên kế hoạch lôi kéo Chiêm Thành, Vương quốc Khơme vào liên minh chống Đại Việt. Tình báo được tăng cường sang nước ta thăm dò tin tức, sai Đỗ Kỷ báo cáo chi tiết về chính trị, địa thế, dân số, đường sá của Đại Việt. Quan chức Tống ở biên giới cấm không cho dân chúng hai nước qua lại buôn bán nữa. Nước Tống một mặt đẩy mạnh quá trình chuẩn bị xâm lược, một mặt lại hết sức đề phòng kế hoạch sẽ bị lộ khiến Đại Việt có sự đề phòng.

Tuy nhiên hai điều này vốn mâu thuẫn nên tình báo của Đại Việt đã sớm biết được ý đồ nước Tống. Vì hoạt động khiêu khích quá lộ liễu mà Thẩm Khởi đã bị vua Tống bãi chức, cho Lưu Di lên thay. Đến lượt mình, Lưu Di vẫn đẩy mạnh những việc mà Thẩm Khởi đã làm càng khiến kế hoạch xâm lược của nước Tống thêm bại lộ. Viên quan giữ thành Ung Châu là Tô Giám đưa thư cho Lưu Di bảo rằng: “Chớ làm những sự khiêu khích giặc”. Lưu Di không nghe theo, lại trách Giám bàn nhảm và cấm Giám không được bàn nữa.

Xem thêm:  Nhà lý số đại tài

Tuy chính sách của vua tôi nước Tống có nhiều điều bất nhất nhưng tựu chung vua Tống đã quyết chí đánh chiếm nước ta. Vấn đề chỉ là nhanh hay chậm, sự chuẩn bị tới đâu mà thôi. Thời gian càng lâu, sự tập trung binh lực và của cải đổ vào cuộc chiến sẽ càng lớn. Đến năm 1075, nước Tống đã có những kho tàng, trạm tiền tiêu lợi hại ở vùng Quảng Tây, đặc biệt là ba căn cứ Ung Châu, Khâm Châu, Liêm Châu tạo thành một thế liên hoàn cả thủy lẫn bộ để tiến vào Đại Việt.

Lời bàn:

Lịch sử nhân loại đã chứng minh rằng, bất kỳ quốc gia nhỏ yếu nào khi số phận địa lý mặc định phải ở cạnh nước lớn thì đều phải gồng mình chống lại sự xâm lăng và sự đồng hóa dân tộc. Và thực tế cũng đã có những dân tộc biến mất tăm mất tích vào một dân tộc lớn. Nhưng cũng có dân tộc bị đô hộ hàng mười thế kỷ bởi một nước có văn hóa cao hơn, số dân đông hơn gấp bội mà sau mấy ngàn năm ta vẫn là ta – đó là dân tộc Việt Nam. Có được điều này không phải vì mũi tên của người dân Đại Việt nhọn hơn, bắp thịt cứng hơn mà chủ yếu là nhờ văn hóa, nhờ đạo lý, nhờ hệ giá trị tinh thần của riêng mình.

Và trong công cuộc phục hưng đất nước ở thế kỷ thứ XI đã đặt ra cho nhà Lý một yêu cầu bức thiết, đó là chung sống hòa bình với các lân bang. Thế nhưng có được hòa bình hay không, lại không chỉ tùy thuộc vào nguyện vọng của người dân Đại Việt. Trong khi đó, các thế lực phong kiến phương Bắc chưa bao giờ từ bỏ lòng tham cùng dã tâm thôn tính Đại Việt. Trong hoàn cảnh ấy, triều đình nhà Lý đã nhận thức đúng đắn các mối tương quan lực lượng, xác định lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài của dân tộc để đề ra được đường lối, chính sách đối ngoại và quân sự đúng đắn. Do đó, đại quân xâm lược của nhà Tống đã nhanh chóng bị quân – dân Đại Việt đánh cho tan tác. Sức mạnh của văn hóa Đại Việt là vậy và ngày nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sức mạnh ấy càng được nhân lên gấp bội để xây dựng đất nước giàu mạnh, bảo vệ vững chắc chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc.

Theo Tapchivanhoc.com

Check Also

7232 1494911290060 1017 310x165 - Tổ quốc trên hết

Tổ quốc trên hết

Theo sách “Danh nhân đất Quảng”, năm 1916, bà Hoàng Thị Tòng từ Hàng Châu …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *