Chuyện về Nguyễn Đăng Giai

Theo sách “Đại Nam chính biên liệt truyện”, Nguyễn Đăng Giai là người làng Phù Chánh, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Ông xuất thân trong gia đình vọng tộc, ông nội là tiến sĩ Nguyễn Đăng Hoành và cha ông là Hiệp biện đại học sĩ Nguyễn Đăng Tuân – thầy dạy vua Thiệu Trị. Thuở nhỏ, Nguyễn Đăng Giai theo học với thân phụ. Năm 1820, ông đỗ hương tiến (cử nhân). Sau đó, Nguyễn Đăng Giai được bổ vào làm ở Hàn lâm, rồi thăng Lang trung bộ Hộ. Năm 1830, ông làm thự Tham hiệp trấn Nam Định. Mùa thu năm 1832, sung cho ông chức Khảo thí trường thi Nghệ An, rồi đợi lĩnh chức Bố chánh sứ Thanh Hóa.

Khi ấy, tuyến đường biển thường bị cướp, bị những nhóm nổi dậy làm trở ngại nên ông đã cùng Tổng đốc Đoàn Văn Trường dâng sớ xin chấn chỉnh lại các đội binh thuyền để tiễu trừ nạn trên. Xem xong tấu sớ, vua Minh Mạng phê rằng: Đăng Giai có kiến thức, những điều đã trình bày phần nhiều thiết thực trúng cơ nghi… Vì vậy, ông không được điều đến Thanh Hóa mà được cử làm Hộ lý quan phòng cửa Tuần Phủ.

Lúc bấy giờ, nhiều nơi bị mất mùa, dân đói đến nỗi phải xiêu dạt. Nguyễn Đăng Giai liền xin vua cho đặt sở Dưỡng tế, tạo thêm công việc giúp dân mưu sinh như cho mở đường cảng và lấy đá núi, trả tiền công thay cho phát chẩn. Lời tâu này lại được nhà vua truyền chỉ khen ngợi ông là người “hết lòng trù tính cứu chữa”. Năm 1833, Lê Duy Lương làm cuộc nổi dậy ở đất Bắc. Tháng 3, nhà vua sai Tổng đốc An Tĩnh (Nghệ An, Hà Tĩnh) Tạ Quang Cự, Thống chế Hoàng Đăng Thận và Nguyễn Đăng Giai cùng mang quân bộ và quân tượng đi tiễu trừ lực lượng của Lê Duy Lương.

Xem thêm:  Bình giảng đoạn "Nhớ bản sương giăng... Tình yêu làm đất lạ hoá quê hương" trong bài Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên

Sau khi được nhà vua chấp thuận phương cách tiêu diệt cuộc nổi dậy của ông, Nguyễn Đăng Giai đã tự xin đem binh tượng đến thẳng Ninh Bình, rồi cùng Tạ Quang Cự tiến quân đóng ở phủ Thiên Quang (nay là Nho Quan). Khi ấy, quân của Lê Duy Lương đang làm chủ đất Chi Nê, 4 sở ở Phụng Hóa, 2 sở ở Gia Viễn và 5 sở ở Yên Hóa… Cùng với mấy ngàn quân, Lê Duy Lương còn có hơn 30 chiếc thuyền chiến chia giữ các nơi hiểm yếu.

Để đối lại, Nguyễn Đăng Giai bàn với tướng Tạ Quang Cự cùng hợp binh, trước đánh lấy 2 đồn là Không Cốc và Tâm Đình, sau tiến lấy Chi Nê và Sơn Âm. Không ngờ trong lúc đánh đuổi quân nổi dậy, một thổ ty ở Thanh Hóa là Nguyễn Đình Bang, sau khi được cấp súng liền đánh lại quân triều đình rồi bỏ trốn. Nguyễn Đăng Giai gửi sớ về nhận lỗi, vua Minh Mạng truyền lệnh cách chức ông nhưng cho ở lại quân thứ để lấy công chuộc tội. Sau đó, ông đốc quân tiến đánh lấy lại đồn Xích Thổ và vài đồn khác, làm thương vong quân nổi dậy rất nhiều, được nhà vua khen cho ông khôi phục chức quan cũ. Tiếp theo, Nguyễn Đăng Giai lại nhận lệnh dẫn quân đi đánh dẹp cuộc nổi dậy của các thổ dân ở Thanh Ba, lúc bấy giờ đang đánh phá huyện Cẩm Thủy và phủ Quảng Hóa (ở phía tây bắc của tỉnh Thanh Hóa). Xong việc, ông được khai phục chức Bố chính, rồi đổi đi Bắc Ninh.

Năm 1836, ông được điều động về Thanh Hóa, rồi tiếp tục lo việc mở đường cảng. Cuối năm ấy, các thổ ty ở Thanh Ba lại xúi dân nổi dậy. Nhà vua bèn cử Hiệp biện đại học sĩ Trương Đăng Quế làm chức Kinh lược, cử Doãn Uẩn và ông cùng làm chức phó, để đi trấn áp và thu phục lại lòng dân. Năm 1837, nhân dân tỉnh Bắc Ninh bị đói, nhà vua ban lệnh bán thóc gạo cho dân, cử Nguyễn Đăng Giai ra coi việc ấy, nhưng vì có lời xin của Trương Đăng Quế nên ông được ở lại để cùng đi đánh dẹp tàn quân của Lê Duy Lương, lúc này đang do các thủ lĩnh họ Quách, họ Đinh làm lãnh đạo.

Tháng 3 năm ấy, Nguyễn Đăng Giai cùng Đề đốc Tôn Thất Bật đang ở Ái Chữ thì bắt sống được một viên tướng của đội quân nổi dậy là Phạm Công Nho, liền cho đóng cũi đưa về Huế giết ngay. Sau đó, Nguyễn Đăng Giai còn chém chết tại trận tướng Lê Phúc Hiển, bắt sống thêm 2 viên tướng khác là Đinh Kim Bảng và Hà Công Kim của lực lượng trên. Bình định xong nơi ấy, vua Minh Mạng xuống chiếu cho ông thu quân về. Vào triều, ông được nhà vua thưởng cho quân công một cấp và chuẩn cho ông về lại Bắc Ninh.

Lời bàn:

Từ nội dung của giai thoại này cho thấy, Nguyễn Đăng Giai là vị quan đại thần hết lòng giúp vua trị nước. Chính vì vậy khi hay tin ông mất, vua Tự Đức có dụ rằng: Nguyễn Đăng Giai đã từng thờ 3 triều, trung cần một tiết… Huống chi là kẻ thế thần, đời đời làm quan trong nước, trọn lòng với trẫm, thực nên hậu gia điển chương khen thưởng để nêu người trung tiết, tuy bề tôi có danh tiếng đời xưa cũng không hơn được. Dưới thời phong kiến, bất kể là ai nhưng được nhà vua bút phê khen ngợi như vậy thì cũng đã là quá đủ để cho tên tuổi cùng sự nghiệp mãi mãi được hậu thế tôn vinh.

Xem thêm:  Hãy nêu suy nghĩ của em về vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm

Cả cuộc đời ông gần như gắn liền với những tháng năm giúp vua trừ bạo loạn, dẹp nạn thổ phỉ để chăm lo cho cuộc sống an lành của người dân. Song, điều đáng trân trọng, nể phục hơn nữa ở con người Nguyễn Đăng Giai là không những trung với vua, với nước và hiếu với dân, mà còn ở chỗ biết giáo dục con cháu. Các con của ông đều là những người thành đạt, trong số đó nổi bật nhất là Nguyễn Đăng Hành, đỗ tiến sĩ năm 1848, làm quan trải đến chức Bắc thứ thường biện quân vụ ở Bắc kỳ. Thế mới hay rằng, khi cha mẹ để lại trí tuệ và đạo lý làm người, con cháu có thể tạo ra của cải cho chính chúng. Khi cha mẹ tích đức hành thiện cả đời và để lại mỹ đức cho con cháu, phúc báo sẽ được lâu dài và tạo phúc cho con cháu.

Theo Tapchivanhoc.com

Check Also

nu sinh d20181115 040205 310x165 - Tổ quốc trên hết

Tổ quốc trên hết

Theo sách “Danh nhân đất Quảng”, năm 1916, bà Hoàng Thị Tòng từ Hàng Châu …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *