Giới thiệu bài thơ Nói với con của tác giả Y Phương

Giới thiệu bài thơ Nói với con của tác giả Y Phương

Bài làm

1. Hoàn cảnh ra đời

-Bài thơ được sáng tác năm 1980 khi các thế hệ nhà thơ vừa thoát khỏi cuộc chiến tranh khốc liệt kéo dài 21 năm, bài thơ được sáng tác dựa trên bối cảnh nền kinh tế còn khó khăn, cái nghèo đang bao trùm trên đất nước ta.

-Bài thơ viết ra nhằm mục đích khích lệ tinh thần con người vượt qua khó khăn, đồng thời cũng là vinh danh người dân tộc tày qua nỗi niềm mà người cha tâm sự với con của mình. Bài thơ được viết dựa trên tình cảm sâu nặng của tác giả, sự tự tôn dân tộc.

2. Nội dung tác phẩm

-Tác phẩm mượn lời người cha nói với con để gợi về cội nguồn của mỗi người, về tình yêu quê hương đất nước cũng như sức sống mãnh liệt của quê hương, bài thơ được thể hiện thành hai nội dung chính:

(1). Cội nguồn sinh dưỡng của người con

(2). Lòng tự hào về sức sống mạnh mẽ và truyền thống cao đẹp của quê hương cùng mong ước của người cha.

-Nội dung bài thơ còn thể hiện cảm xúc phát triển từ tình cảm gia đình được mở rộng ra thành thứ tình cảm lớn lao hơn đó là tình cảm quê hương, từ những kỉ niệm gần gũi thiết tha mà nâng cao lên thành chân lí sống.

3. Nghệ thuật tác phẩm

-Giọng điệu thiết tha

-Hình ảnh bài thơ cụ thể, sinh động, có sức khái quát lại vô cùng mộc mạc và giàu chất thơ

-Bố cục mạch lạc, mạch cảm xúc bộc lộ được cảm xúc tận sâu trong lòng tác giả lại vô cùng tự nhiên và hợp lí

-Cách thể hiện giàu bản sắc của người dân tộc miền núi tạo nên giọng điệu  rất chân thật, sâu sắc

Phân tích bài thơ Mây và sóng của tác giả Ta-go

Phân tích bài thơ Mây và sóng của tác giả Ta-go

Phân tích bài thơ Mây và sóng của tác giả Ta-go

I. Dàn ý chi tiết

1. Mở bài

Giới thiệu tác phẩm: Mây và sóng của Ta-go, tác phẩm ca ngợi tình mẫu tử thiêng liêng, bất diệt của một đại thi hào Ấn Độ.

2. Thân bài

-Câu chuyện mây rủ cậu bé đi chơi xa

+ Những người sống trên mây khoe với cậu về cuộc sống thú vị trên đó, được rong chơi suốt ngày

+ Rủ cậu đi chơi xa và hướng dẫn cậu bé cách để lên trên đó cùng chơi

+ Thái độ thích thú những băn khoăn khi nghĩ đến mẹ ở nhà và nghĩ ra trò chơi mới để vẫn được vui đùa.

-Câu chuyện sóng rủ cậu bé đi chơi xa

+ Những người sống trong sóng khoe với cậu về cuộc sống thú vị được đi khắp nơi và ca hát suốt cả ngày

+ Rủ cậu đi chơi xa và hướng dẫn cậu cách để có thể vui đùa cùng sóng

+ Thái độ phân vân, do dự vì nghĩ sao có thể dời xa mẹ để được đi chơi xa và lại tiếp tục nghĩ ra trò chơi mới ở bên mẹ

-Tình mẫu tử thiêng liêng, bất diệt

+ Mượn hình ảnh tuyệt đẹp của thiên nhiên để so sánh với tình mẫu tử và khẳng định tình mẫu tử không thể thay thế

+ Nêu lên quy luật đối với mẹ con là món quà vô giá và đối với con mẹ là tất cả.

3. Kết bài

  Cảm nghĩ về bài thơ: Qua bài thơ cho người đọc thấy được hình ảnh thiên nhiên tuyệt đẹp, đồng thời  chắp cánh cho trí tưởng tượng của tuổi thơ bay bổng, là bài học thấm thía đối với tất cả mọi lứa tuổi, bài học rằng hạnh phúc gia đình chính là điểm tựa vững chắc nhất đối với con cái

II. Bài tham khảo

   Trong kho tàng văn học nhân loại có rất nhiều tác phẩm viết về tình mẫu tử, tình cảm gia đình, tiêu biểu trong số đó là tác phẩm Mây và sóng của Ta-go, tác phẩm ca ngợi tình mẫu tử thiêng liêng, bất diệt của một đại thi hào Ấn Độ

  Xuyên suốt tác phẩm là những câu chuyện li kì, tưởng tượng kì diệu của cậu bé kể cho mẹ mình nghe, thiên nhiên như được mở ra trước mắt đứa trẻ, với sự hồn nhiên trong sáng và trí tưởng tượng phong phú của mình cậu bé đã thả hồn mình vào với thiên nhiên, cùng vui chơi, nô đùa với những thứ mới lạ xung quanh cậu. Câu chuyện đầu tiên được mở ra đó là lời mời đi chơi xa của mây đối với cậu, những người sống trên mây khoe với cậu về một cuộc sống tự do, tràn ngập tiếng cười, được rong chơi suốt cả ngày, được đi khắp tất cả mọi nơi, được đến cả những nơi mà cậu chưa từng thấy đó là chốn bình minh vàng và vầng trăng bạc. “Bọn tớ chơi từ khi thức dậy cho đến lúc chiều tà. Bọn tớ chơi với bình minh vàng, bọn tớ chơi với vầng trăng bạc”.

Phân tích bài thơ Mây và sóng của tác giả Ta-go

 Đối với một cậu bé đang rất hào hứng về thế giới bên ngoài, qua những lời mời vô cùng thú vị đó không thể cưỡng lại được cậu đã hỏi về cách để được cùng mây rong chơi, rồi ngay lúc này hình ảnh người mẹ hiện lên trước mắt cậu bé, hình ảnh đó đã khiến cậu băn khoan khi làm sao tới đó được khi mà mẹ còn đang đợi ở nhà, làm sao mà có thể dời mẹ để đi chơi xa được, để rồi từ đó mà nghĩ ra trò chơi thay thế để có thể thỏa lòng ước muốn hòa mình với mây trời. Một cậu bé ngoan ngoãn, từ chối lời mời thật ngây thơ, trong sáng đến mức họ phải mỉm cười, nhảy múa lướt qua, chính tình cảm sâu đậm chân thành mà người mẹ dành cho cậu đã níu giữ cậu lại bên mẹ, biết suy nghĩ về mẹ trước lời mời gọi thơ mộng đó.

  Thiên nhiên rộng lớn kì ảo lại tiếp tục vẫy gọi cậu thêm một lần nữa, lần này là lời mời đi chơi đến từ sóng, những người sống trong sóng khoe với cậu về một cuộc sống đầy thú vị, được ca hát từ sáng sớm cho đến hoàng hôn, được ngao du khắp mọi nơi mà không biết từng đến nơi nào, rồi sau những lời mời vô cùng thú vị đó sóng hướng dẫn cậu bé đến rìa biển cả, nhắm nghiền mắt lại và cậu sẽ được làn sóng nâng đi, sẽ được cùng sóng sống cuộc sống nay đây mai đó, khám phá nhiều vùng đất mới. Rồi lại một lần nữa cậu phân vân trước những lời mời tuyệt vời đó, hình ảnh người mẹ lại hiện lên, vẫn câu hỏi cũ, vẫn lời băn khoăn cũ, làm sao có thể dời mẹ để cùng sóng đi chơi xa như vậy được và rồi lại một trò chơi thay thế ra đời, trò chơi được vui chơi mà vẫn được ở bên cạnh mẹ.

   Sau những hình ảnh ngây ngô, thú vị với những hành động tuyệt đẹp của cậu bé thì cuối cùng trò chơi mà khiến cậu hạnh phúc nhất đó là được ở bên cạnh mẹ, đây là tình mẫu tử thiêng liêng, bất diệt. Nhà thơ đã mượn những hình ảnh vĩnh hằng của tự nhiên để so sánh với tình cảm giữa cậu bé với mẹ của mình, với tình cảm giữa những con người trong gia đình để qua đó khẳng định tình thương mà người mẹ dành cho con mãnh liệt bao nhiêu thì tình cảm mà con cái dành cho lớn lao bấy nhiêu, qua đây cũng thể hiện rằng tình mẫu tử là không gì thay thế được, đối với mẹ người con là món quà vô giá mà ông trời ban tặng cho họ trong cuộc đời này và đối với con mẹ chính là tất cả đối với con.

  Qua bài thơ cho người đọc thấy được hình ảnh thiên nhiên tuyệt đẹp, đồng thời  chắp cánh cho trí tưởng tượng của tuổi thơ bay bổng, là bài học thấm thía đối với tất cả mọi lứa tuổi, bài học rằng hạnh phúc gia đình chính là điểm tựa vững chắc nhất đối với con cái.

Phân tích bài thơ Nói với con của tác giả Y Phương

Phân tích bài thơ Nói với con của tác giả Y Phương

Phân tích bài thơ Nói với con của tác giả Y Phương

I. Dàn ý chi tiết

1. Mở bài

Giới thiệu tác phẩm: “Nói với con” của nhà văn Y Phương. Tác phẩm là lời tâm tình chia sẻ mà người cha dành cho con trai của mình, qua từng câu thơ giản dị mộc mạc người cha mong muốn con của mình thấu hiểu được giá trị của con người.

2. Thân bài

-Tâm tình về cội người sinh dưỡng, tình cảm gia đình

Chân phải bước tới cha

Chân trái bước tới mẹ

Một bước chạm tiếng nói

Hai bước tới tiếng cười

-“Chân phải” “Chân trái” “Tiếng nói” “Tiếng cười” hình ảnh ấn tượng những ngày đầu của người con.

-Hình ảnh khiến cho bất kì ai cũng cảm thấy lâng lâng khó tả khi được sống trong không khí gia đình ấm áp

-Tình cảm ruột thịt đồng thời những khởi đầu khó khăn đó cũng là công ơn lớn lao, thiêng liêng mà cha mẹ dành cho con.

-Tình cảm đối với quê hương, đất nước

Người đồng mình yêu lắm con ơi

Đan lờ cài nan hoa

Vách nhà ken câu hát

Rừng cho hoa

Con đường cho những tấm lòng.

-“Người đồng mình” ở đây chính là người vùng mình, miền mình, những người cùng miền đất nước, quê hương, những người sinh ra trên mảnh đất quê hương yêu dấu.

-Tình yêu quê hương da diết, ngọt ngào hơn qua cách sử dụng từ ngữ hô gọi “Con ơi”, “Yêu lắm”

-Cuộc sống lao động miệt mài, cần cù, vui tươi: “Đan lờ” để đánh bắt cá những bằng sự khéo léo của mình mà công việc đó như “Cài lan hoa”, xây nhà xen câu hát

Phân tích bài thơ Nói với con của tác giả Y Phương

-Lời dạy về những khó khăn và sự nỗ lực mà người con cần có được

Sống trên đá không chê đá gập ghềnh

Sống trong thung không chê thung đói

Sống như sông như suối

Lên thác xuống ghềnh

Không lo cực nhọc

-Trong cuộc sống người con sẽ gặp rất nhiều khó khăn thử thác và điều quan trọng là cần biết nỗ lực hết sức có thể để vượt qua được những khó khăn thử thách đó

-“Đá gập ghềnh, nghèo đói, lên thác xuống ghềnh” Khó khăn đó cần đối mặt và vượt qua để vượt qua chính bản thân

-Lời dạy là động lực cho người con bước tiếp khi gặp khó khăn

3. Kết bài

Cảm nghĩ về bài thơ: Tác phẩm sử dụng từ ngữ mộc mạc, chân chất, thấm đượm tình người, gieo cho người đọc hiểu hơn phần nào về tình yêu thương, tình quê hương và tình người thiết tha. Với phong cách riêng biệt của mình tác giả đã vô cùng thành công trong việc gieo vào lòng người những tình cảm khó quên đó

II. Bài tham khảo

   Tình cảm gia đình từ xưa đến nay đã trở thành đề tài không bao giờ cạn đối với bất kì nhà văn, nhà thơ nào. Hình ảnh người cha, người mẹ được đưa vào văn thơ một cách tự nhiên nhất và một trong số những tác phẩm vô cùng tiêu biểu đó không thể không kể tới “Nói với con” của nhà văn Y Phương. Tác phẩm là lời tâm tình chia sẻ mà người cha dành cho con trai của mình, qua từng câu thơ giản dị mộc mạc người cha mong muốn con của mình thấu hiểu được giá trị của “Người đồng mình” để qua đó làm cho quê hương đất nước trở nên giàu mạnh hơn.

   Bài thơ được xây dựng theo một lẽ tự nhiên vô cùng hài hòa, những câu đầu của bài thơ là lời tâm tình của người cha nói về cội nguồn sinh dưỡng, nói về thứ tình cảm thiêng liêng, mạnh mẽ hơn bất cứ thứ tình cảm nào trên cuộc đời này.

Chân phải bước tới cha

Chân trái bước tới mẹ

Một bước chạm tiếng nói

Hai bước tới tiếng cười

   Bất kì ai sinh ra để có thể phát triển bình thường, toàn diện không thể thiếu được tình yêu của cha mẹ, những hình ảnh cụ thể, chân thực nhất được tác giả thể hiện. “Chân phải” “Chân trái” “Tiếng nói” “Tiếng cười” tất cả đều là những hình ảnh ấn tượng nhất đối với những người cha người mẹ, những bước đi chập chững đầu đời là những bước đi hạnh phúc nhất dưới sự dìu dắt của cha mẹ.

Tác giả đã vẽ lên một bức tranh sinh động trước mắt người đọc, qua hình ảnh nhỏ bé đó cũng khiến cho bất kì ai cũng cảm thấy lâng lâng khó tả khi được sống trong không khí gia đình ấm áp, không lo toan mà chỉ có tiếng cười. Sự hạnh phúc của đứa trẻ xuất phát từ tình yêu mà cha mẹ đã dành cho, đó là tình cảm ruột thịt đồng thời những khởi đầu khó khăn đó cũng là công ơn lớn lao, thiêng liêng mà cha mẹ dành cho con. Bên cạnh tình cảm gia đình nhỏ bé mà ấm áp đó tác giả lại muốn nói với con về thứ tinh cảm to lớn vĩ đại hơn đó là tình cảm dành cho quê hương, dành cho đất nước.

Người đồng mình yêu lắm con ơi

Đan lờ cài nan hoa

Vách nhà ken câu hát

Rừng cho hoa

Con đường cho những tấm lòng.

Sinh ra trong cái nôi dân tộc tày nên hình ảnh mà tác giả sử dụng vô cùng đặc biết, đó là nét đẹp của người dân tộc thiểu số, một bức tranh sinh động lại được vẽ lên đầy đủ màu sắc, “Người đồng mình” ở đây chính là người vùng mình, miền mình, những người cùng miền đất nước, quê hương, những người sinh ra trên mảnh đất quê hương yêu dấu.

Tình yêu quê hương mà tác giả nhắc đến còn trở nên da diết hơn, ngọt ngào hơn qua cách sử dụng từ ngữ hô gọi “Con ơi”, “Yêu lắm”, bên cạnh đó là cuộc sống lao động miệt mài, cần cù, vui tươi được gợi lên qua việc “Đan lờ” để đánh bắt cá những bằng sự khéo léo của mình mà công việc đó như “Cài lan hoa”. Không chỉ thế mà con người nơi đây còn dựng lên những ngôi nhà bằng câu hát của mình, đó là một lối văn hoa độc đáo của riêng con người nơi đây. Sau cùng người cha nói với con về sự nỗ lực, cần biết vượt qua khó khăn để trưởng thành hơn.

Sống trên đá không chê đá gập ghềnh

Sống trong thung không chê thung đói

Sống như sông như suối

Lên thác xuống ghềnh

Không lo cực nhọc

Mọi người sinh ra không phải ai cũng ở vạch đích, mỗi người đều có một quãng đường riêng trong cuộc đời mình, trên quãng đường đó có rất nhiều ngã rẽ cho mỗi người, và quãng đường đời đó sẽ có những khó khăn thử thách nhất định. Điều quan trọng là cần biết nỗ lực hết sức có thể để vượt qua được những khó khăn thử thách đó, chiến thắng bản thân mình để chạm tay tới ước mơ, tới thành công. “Đá gập ghềnh, nghèo đói, lên thác xuống ghềnh” vô cùng gian nan nhưng không vì thế mà từ bỏ, hãy cố gắng vượt qua để trở thành người có ích cho xã hội. Lời dạy của cha tuy nhẹ nhàng nhưng vô cùng sâu sắc, đó cũng chính là động lực cho người con có thể bước tiếp những bước đi của mình.

   Tác phẩm sử dụng từ ngữ mộc mạc, chân chất, thấm đượm tình người, gieo cho người đọc hiểu hơn phần nào về tình yêu thương, tình quê hương và tình người thiết tha. Với phong cách riêng biệt của mình tác giả đã vô cùng thành công trong việc gieo vào lòng người những tình cảm khó quên đó.

Phân tích nhân vật Bá Kiến trong Chí Phèo của Nam Cao

Phân tích nhân vật Bá Kiến trong Chí Phèo của Nam Cao

Phân tích nhân vật Bá Kiến trong Chí Phèo của Nam Cao

Bài làm

Nếu như trong “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố thể hiện chân dung vợ chồng Nghị Quế – bọn nhà giàu tham lam độc ác, là tay sai đắc lực cho bọn thực dân Pháp thì nhân vật Bá Kiến trong “Chí Phèo” của Nam Cao hiện lên với chân dung bản chất mang tầm khái quát và điển hình cao hơn. Nhân vật Bá Kiến trong truyện ngắn “Chí Phèo” điển hình cho giai cấp thống trị phong kiến dâm ô, đê tiện, gian tham, lọc lõi, ác độc.

Nam Cao là nhà văn đi theo chủ nghĩa hiện thực, dẫn đầu trong thể tài bi kịch tinh thần của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. Trong tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao giá trị tố cáo của tác phẩm không chỉ thể hiện ở trong hiện thực của những người nông dân bị tha hóa mà còn phản ánh qua chân dung của những thế lực bạo tàn đẩy người nông dân vào bi kịch. Nhà văn đã dựng lên chân dung nhân vật Bá Kiến – nhân vật phản diện điển hình cho hàng ngũ thống trị. 

Phân tích nhân vật Bá Kiến trong Chí Phèo của Nam Cao

Bá Kiến là một con cáo già dâm ô, đê tiện, độc đoán. Vì thói ghen tuông vớ vẩn xuất phát từ sự dâm ô trụy lạc của hắn đã đẩy anh canh điền vô tội vào con đường tội lỗi, cướp đi quyền làm người tối thiểu của Chí Phèo. Sự bắt bớ vu vơ của hắn lại liên quan đến tính mạng của cả một đời người, một kiếp người như Chí Phèo và rồi còn biết bao người khác như Binh Chức… 

Bá Kiến là kẻ độc ác, gian tham, luôn có đủ mọi thủ đoạn lọc lõi. Hắn bắt người đi tù khi người ta lương thiện và thả khi người ta thành lưu manh. Điều này được chứng minh khi Chí Phèo ra tù. Vừa ra tù, Chí Phèo đến ngay nhà Bá Kiến để đòi lại “món nợ máu”. Thế nhưng, Bá Kiến đã khôn khéo mua chuộc ngược lại Chí Phèo. Hắn coi mình như Tào Tháo mà còn lọc lõi, nham hiểm hơn cả Tào Tháo. Với lợi ích cá nhân, hắn “vừa đấm vừa xoa” biến Chí Phèo thành tay sai đắc lực cho hắn. Bá Kiến cho Chí Phèo tiền để mua “thuốc”, cấp cho hắn 5 sào vườn vừa cướp được với túp lều rách. Hắn chẳng nhân đạo gì. Hắn chỉ đang mưu mô “bỏ con cá nhỏ để bắt con cá to”. Hắn sẽ có lợi cả đôi bên: dùng Chí Phèo để đòi nợ Đội Tảo, nếu đòi được nợ thì hắn cũng có lợi, nếu không Đội Tảo sẽ “trị” Chí Phèo.

Bá Kiến là một con quỷ mất hết tính người. Hắn đẩy Chí Phèo đến bước đường cùng thành kẻ lưu manh gớm ghiếc, rồi chính Bá Kiến là kẻ đã cướp đi quyền trở lại làm người của Chí. Chí Phèo xách dao tới nhà Bá Kiến đòi “làm người lương thiện” nhưng đồng thời Chí cũng nhận ra “không thể làm người lương thiện được nữa”, Chí tin chắc chắn rằng kẻ như Bá Kiến sẽ không bao giờ hiểu được khát vọng của Chí. Chính vì thế Chí giết Bá Kiến. Bá Kiến chết đi như hệ quả tất yếu của quy luật “tức nước vỡ bờ”. Với nhân vật này, Nam Cao đã miêu tả một cách toàn diện xã hội Việt Nam lúc mấy giờ. Trong đó, tác giả lên án đang thép xã hội “ăn thịt người” mà những con sâu con mọt như Bá Kiến đang ngày đêm đục khoét. 

Tóm lại, với hình tượng nhân vật Bá Kiến trong truyện ngắn “Chí Phèo”, Nam Cao đã xây dựng chân dung điển hình cho tầng lớp thống trị đẩy người nông dân đến bước đường cùng. Với việc xây dựng nhân vật điển hình này, Nam Cao đã khắc họa được mâu thuẫn cơ bản của xã hội nông thôn Việt Nam, từ đó lên tiếng tố cáo xã hội, bênh vực và đòi quyền sống cho những người nông dân.

Phân tích truyện ngắn Vi hành của Nguyễn Ái Quốc

Phân tích truyện ngắn Vi hành của Nguyễn Ái Quốc

Phân tích truyện ngắn Vi hành của Nguyễn Ái Quốc

Bài làm

Từ tài năng sử dụng nghệ thuật trào phúng tài tình, Nguyễn Ái Quốc đã mang đến một tác phẩm truyện ngắn nổi tiếng “ Vi hành” để phơi bày những bản chất giả dối tàn bạo của của thực dân Pháp khi xâm lược Việt Nam. Cùng với đó là sự phê phán, bày tỏ sự khinh bỉ đối với bọn vua quan bán nước, làm bù nhìn cho thực dân Pháp với sự kiện Khải Định sang Pháp sự cuộc Đấu xảo thuộc địa. Những phân tích truyện ngắn “Vi hành” của Nguyễn Ái Quốc sẽ giúp bạn đọc có thêm nhiều hiểu biết về truyện ngắn này.

Truyện ngắn “Vi Hành” đã được đăng trên tờ báo Nhân Đạo ( Pháp) để không chỉ vạc trần bộ mặt tàn bạo, độc ác của thực dân Pháp, tự xưng là : quốc mẫu “ để lừa bịp người dân An Nam. Đồng thời, ngay từ tiêu đề của truyện, tác giả cũng đã sử dụng nghệ thuật trào phúng để phê pháp, thể hiện sự khinh bỉ đối với ông vua bù nhìn Khải Định. Tiêu đề truyện không chỉ được Nguyễn Ái Quốc đặt ngẫu nhiên, tên truyện đã được đặt tài tình để thu hút sự tò mò của độc giả, để châm chiếm chuyến đi của vua Khải Định khi đến Pháp để tham dự một cuộc  Đấu xảo thuộc địa. Khải định là ông vua được biết đến với những cuộc chơi, dựa vào thực dân pháp để đàn áp những cuộc khởi nghĩa của người dân. Nghệ thuật đặt tiêu đề tài tình với khả năng châm biếm cao đã được Nguyễn Ái Quốc thể hiện nhờ tài năng văn chương của mình.

Tác giả sử dụng nghệ thuật kể chuyện gián tiếp để trực tiếp châm biếm ông vua Khải định nhưng lại mang tính khách quan, thực tế và tự nhiên nhất. Bác đã thông qua lời nhận xét khách quan của hai thanh niên nam nữ về Khải Định để xây dựng hình ảnh chân thực về ông  Khải Định luôn chìm trong cuộc ăn chơi, làm một vị vua bù nhìn.

Nguyễn Ái Quốc đã xây dựng lên hình ảnh chân thực hơn về một ông vua với những trò hề xoàng xĩnh, rẻ tiền và nhố nhăng với “vẫn cái mũi tẹt ấy, vẫn đôi mắt xếch ấy, vẫn cái mặt bủng như vỏ chanh, cả cái chụp đèn chụp lên cái đầu quấn khăn, các ngón tay thì đeo đầy những nhẫn”. Qua câu chuyện kể của tác giả về những nhận xét của người thanh niên về hình ảnh ông vua nước An Nam chỉ như “vợ lẽ nàng hầu vua Cao Miên” hoặc những trò lố của vua Khải Định được đánh giá “trò leo trèo, nhào lộn của sư thánh xứ Công Gô”. 

Phân tích truyện ngắn Vi hành của Nguyễn Ái Quốc

Từ những nhận xét chỉ của người dân Pháp về một vị vua của nước An Nam như những lời báng bổ, nhạo báng dành cho Khải Định. Từ đó, tác giả đã thành công xây dựng hình ảnh ông vua bù nhìn Khải Định chỉ là ông vua nô lệ của thực dân Pháp. Qua khả năng xây dựng tài tình câu chuyện của những người thanh niên Pháp đã cho thấy những bộ mặt thật của Khải Định từ một ông vua bù nhìn, con rối của thực dân Pháp để góp phần trợ giúp  “ quốc mẫu “ chà đạp lên cuộc sống và tự do của người Việt.

Đặc biệt, khi câu chuyện kể được đưa cao lên đỉnh điểm chính là nghệ thuật so sánh, liên tưởng giữa vua Khả Định và Alêchxăng đệ Nhất về cách cai trị của mình khi bình luận về chuyến đi. “Phải chăng là ngài muốn biết dân Pháp dưới quyền ngự trị của bạn ngài là Alêchxăng đệ nhất có được sung sướng, có được uống nhiều rượu cồn và hút nhiều thuốc phiện bằng dân An Nam dưới quyền ngự trị của ngài hay không? (…), Hay là chán cảnh làm một ông vua to, bây giờ ngài lại muốn nếm thử cuộc đời của các cậu công tử bé?"

Đây chính đoạn văn đã bộc lộ được khả năng dẫn dắt tài tình cùng nghệ thuật phê phán, vạch trần sự thật về “quốc mẫu” thực dân Pháp không hề có ý định “khai sáng văn hóa” mà ngược lại chính là cước nước với những tội ác áp bức bóc lột dân tộc Việt từ nhiều chính sách độc ác và tàn bạo. 

Từ việc lựa chọn hình thức bức thư kể lại một câu chuyện đã mang đến sự khách quan khi đánh giá về nhân vật chính của câu chuyện. Với hình thức viết thư, Nguyễn Ái Quốc có thể dịch chuyển không gian từ nhiều địa điểm khác nhau để có thể đả kích cả các hiện tượng tiêu cực trong xã hội Pháp khi đó. Giọng điệu trần thuật đầy châm biếm nhưng hài hước, tự nhiên và dí dỏm cùng phê phán đả kích mạnh mẽ để làm nên sức chiến đấu của tác phẩm. 

Với truyện ngắn “Vi hành”, Nguyễn Ái Quốc đã thể hiện được tài năng sử dụng ngôn ngữ phong phú cùng nghệ thuật trào phúng để phê phán vua quan triều Nguyễn làm bù nhìn cho thực dân Pháp tiến hành xâm lược và bọc dân tộc Việt.

Phân tích bài thơ Chơi Xuân

Phân tích bài thơ Chơi Xuân

Phân tích bài thơ Chơi Xuân

Bài làm

Phan Bội Châu là một người dân yêu nước, một nghệ sĩ đa tài mà hơn thế nữa ông còn là một nhà chính trị lỗi lạc. Trong thơ ca của ông có sự hòa quyện, gắn kết, lan tỏa cả tình yêu quê hương đất nước cùng ý chí cách mạng quật cường. Một trong những bài thơ thể hiện rõ nhất cá tính và hồn thơ của Phan Bội Châu không thể không kể đến đó chính là bài thơ “chơi xuân”. Hãy cùng tìm hiểu rõ hơn những nét độc đáo trong bài thơ này qua bài chia sẻ dưới đây.

Mở đầu bài thơ, Phan Bội Châu khiến người đọc cảm thấy thú vị, vui tươi,với sự tự do phóng khoáng của con người trong không khí chơi  xuân:

Quân bất kiến:Nam xuân tự cổ đa danh sĩ
Đã chơi xuân đừng quản nghĩ chi chi
Khi ngâm nga xáo lộn cổ kim đi
Tùa tám cõi ném về trong một túi.

Sử dụng thể thơ hát nói, Phan Bội Châu cho chúng ta thấy một thân sĩ với sự say sưa, bay bổng, phóng khoáng trong cách chơi xuân độc đáo. Lời thơ là một lời bày tỏ, một sự khẳng định vô cùng chắc chắn về một đất nước sản sinh ra những nhân tài, những con người dám chơi, đã chơi là phải chơi đến cùng, chơi đến “xáo lộn cổ kim”.

Giọng thơ hào hùng, tự do, phóng túng khiến ta có cảm giác như mọi thứ trong vũ trụ, nhân gian trở nên nhỏ bé trong mắt người anh hùng. Mùa xuân, mùa của trăm hoa đua nở, mùa của ấm áp reo vui, nhựa sống căng tràn và cũng là thời khắc an vui, đoàn tụ bên gia đình. Những danh sĩ trong thời kì này, họ yêu xuân, yêu nước, tâm hồn họ cũng say sưa thưởng thức vẻ đẹp của thiên nhiên không do dự trước hoàn cảnh. Chúng ta thấy ở họ đó chính là một tinh thần, một ý chí vươn lên mạnh mẽ, sẵn sàng chiến đấu vì lý tưởng và hòa bình dân tộc.

Phân tích bài thơ Chơi Xuân

Khác với sự tươi vui, khoáng đạt trong khổ thơ đầu, khổ thơ thứ 2 của bài chơi xuân khiến người đọc lắng đọng cảm xúc và tâm tình hơn rất nhiều:

Nước non Hồng Lạc còn đây mãi
Mặt mũi anh hùng há chịu ri
Giang sơn còn tô vẽ mặt nam nhi
Sinh thời thế phải xoay nên thời thế.

Có thể nói đây là tứ thơ trung tâm của bài thơ, là yếu tố duy trì cảm xúc và lý tưởng trong suốt cả bài thơ. Tác giả xây dựng hai vế đối xứng: nước non Lạc Hồng – mặt mũi anh hùng để khẳng định ý chí và niềm tin đối với sự trường tồn của đất nước.

Lời thơ là niềm tự hào của tác giả về một đất nước tràn đầy oai hùng, kiêu hãnh. Ý thơ lại là sự khẳng định cho sự quyết tâm của một đấng nam nhi. Đã là nam nhi thì phải sống, chiến đấu hy sinh vì đất nước, bảo vệ đất nước trong mọi hoàn cảnh.

Câu hỏi “há chịu ri”của tác giả chính là sự khẳng định, là quyết tâm của người anh hùng hết lòng chiến đấu, hi sinh về đất nước. Họ bảo vệ đất nước chính là bảo vệ gia đình, bảo vệ chính mình hay nói khác hơn đó chính là bảo vệ mùa xuân tươi đẹp của tổ quốc.

Phùng xuân hội may ra ừ cũng dễ
Nắm địa cầu vừa một tí con con
Đạp toang hai cánh càn khôn
Đem xuân vẽ lại trong non nước nhà.

Câu thơ mang âm hưởng của sự tươi vui, sảng khoái, lan tỏa trong suốt không gian và trong cả lòng người đọc. Đối với nhà thơ, mùa xuân sẽ trọn vẹn và đẹp hoàn chỉnh hơn không chỉ bởi cảnh sắc, sự ấm áp của tình người mà hơn thế nữa mùa xuân ấy phải là mùa xuân của tự do, yên bình.

Và để có thể có được một mùa xuân trọn vẹn thì đòi hỏi người anh hùng cần có sự thay đổi, có sự chiến đấu và gánh vác trọng trách đối với đất nước:

Hai vai gánh vác sơn hà.
Đã chơi, chơi nốt, ố chà chà xuân.

Không dừng lại ở một cuộc chơi xuân, ý thơ ở đây đã rất rõ ràng đó là chơi xuân cũng giống như gánh vác non sông, dân tộc, chiến đấu vì lý tưởng của người anh hùng.

Lời thơ hào sảng, ý thơ sắc nét, bài thơ “chơi xuân” của Phan Bội Châu đã để lại trong lòng người đọc những ấn tượng vô cùng sâu sắc. Tình yêu quê hương đất nước, ý chí anh hùng cũng như hồn thơ tài năng đã cùng hòa quyện tạo nên sự độc đáo mới mẻ trong cách “chơi xuân” của Phan Bội Châu.

Bình giảng bài thơ thương vợ của Trần Tế Xương

Bình giảng bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương

Bình giảng bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương

Bài làm

Trong thơ ca văn học của Việt Nam rất ít những bài thơ viết về vợ đặc biệt là ngay khi vợ vẫn còn sống. Thông thường các thi nhân Việt họ chỉ làm thơ khi người vợ thân yêu của mình đã qua đời. Nhưng với Tú Xương lại khác ông làm thơ về vợ ngay khi bà còn sống. Và qua bài bình giảng bài thơ thương vợ của Trần Tế Xương sau đây chúng ta sẽ phần nào hiểu được nỗi lòng của ông Tú với người vợ tần tảo sớm hôm của mình.

Trần Tế Xương là tên thật của nhà thơ Tú Xương sinh năm 1870 quê ở Nam Định. Ông là nhà thơ nổi tiếng của Việt Nam với thể loại trào phúng và trữ tình. Trong sự nghiệp sáng tác thơ ca của mình ông đã để lại cho nền văn học nước nhà hơn 100 bài thơ với nhiều thể loại trong đó Thương Vợ là bài thơ gây được tiếng vang lớn trong lòng người đọc.

Bình giảng bài thơ thương vợ của Trần Tế Xương

Mặc dù phải chịu nhiều thiệt thòi do cái định kiến hà khắc của xã hội nhưng bà Tú lại vô cùng hạnh phúc khi mà rất nhiều người phụ nữ Việt khi làm vợ không có được đó là đã được chồng đưa và thơ ca với tất cả tình yêu thương trân trọng nhất. Điều này thể hiện rất rõ trong những tác phẩm viết về vợ của ông Tú nhưng bài Thương Vợ chính là một trong những tác phẩm điển hình và xuất sắc nhất.

Tình thương yêu vợ của ông Tú thể hiện qua sự thấu hiểu phẩm chất cao đẹp và nỗi vất vả của người vợ khi mà “quanh năm buôn bán ở mom sông”. Câu thơ này đã gợi lên cho người đọc một cảnh tượng vô cùng vất vả với một người phụ nữ dù nắng mưa, ốm đau bệnh tật bà vẫn ngày ngày bươn trải một mình bên sông.

Như thấm thía nỗi vất vả của người vợ Tú Xương đã mượn hình ảnh con cò trong ca dao để nói về người vợ của mình “Lặn lội thân cò khi quãng vắng” hình ảnh bà Tú trong câu thơ này vô cùng vất vả, thậm chí là nguy hiểm khi phải một mình lặn lội ở những nơi vắng vẻ, heo hút. Khi đọc câu thơ này chúng ta như thấu hiểu nỗi lòng, nỗi đau của một người chồng chứng kiến sự vất vả của vợ mà không thể làm gì được.

Câu thơ tiếp theo Tú Xương đã cho người đọc thấy được sự vật lộn với cuộc sống của người vợ “Eo sèo mặt nước buổi đò đông”. Câu thơ này đã gợi lên cảnh bươn trải, chen chúc của những người buôn bán trên khúc sông đó. Đến câu thơ này chúng ta đã cảm nhận thêm được sự xót thương của ông Tú với bà Tú khi vừa phải chịu sự nguy hiểm khi “quãng vắng” giờ lại phải vật lộn với cảnh “chen chúc”.

Ở trong hai câu luận của bài thơ, tác giả một lần nữa cho người đọc thấy sự cảm phục của mình với vợ khi bà “Năm nắng mười mưa dám quản công”. Với câu thơ này đức hy sinh của bà Tú khiến không chỉ chồng mà người đọc cũng phải khâm phục.

Trong những áng thơ viết về vợ của ông Tú chúng ta thường bắt gặp hình ảnh của cả hai người nhưng ông luôn ở phía sau và trong bài thơ này ông xuất hiện trong câu thơ “Nuôi đủ năm con với một chồng”. Trong câu thơ này ông đã tách biệt mình và con ra để thể hiện sự biết ơn, đức hy sinh của người vợ khi không chỉ phải nuôi còn mà còn phải nuôi cả chồng. Ông tự cho mình là gánh nặng khiến bà Tú phải nuôi. Và trong câu thơ tiếp theo ông viết để rủa bản thân cùng hàm ý sâu xa đó là lên án sự bất công của xã hội đối với người phụ nữ “Có chồng hờ hững cũng như không”.

Qua bài bình giảng bài thơ Thương Vợ của Trần Tế Xương chúng ta thấy được sự khâm phục, một tình thương, sự quý trọng, xen lẫn sự bất lực của ông Tú trước sự vất vả của người vợ. 

Phân tích bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Phân tích bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Phân tích bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Bài làm

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà thơ lớn của dân tộc. Ông không chỉ được biết đến nhiều vì tài thơ văn mà còn vì tư cách đạo đức của mình. Dù rất uyên bác và am hiểu nhưng ông chỉ thích lối sống thanh bạch giản dị. Điều đó đã được thể hiện rất rõ qua tác phẩm “Nhàn”.

Bài thơ được mở đầu bằng đôi câu thơ:

“Một mai một cuốc, một cần câu

Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”.

Điệp từ “một” được nhắc lại 3 lần vừa có tác dụng khiến bài thơ có nhịp điệu, vừa nhấn mạnh sự thanh nhàn của người nông phu. Câu thơ gợi ra dáng vẻ thong dong tự tại của một lão nông. Thực là nhàn rỗi, tưởng cô đơn mà lại không hề cô đơn. Bởi vì ông làm bạn với đất trời, với thiên nhiên, lấy việc làm vườn, câu cá làm thú vui. Triết lý này lại gợi ta liên tưởng đến cuộc sống nơi chiến khu của Bác Hồ:

“Sáng ra bờ suối, tối vào hang,
Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng” – Tức cảnh Pác Bó.

Những người trí thức thường sống rất gắn bó với thiên nhiên cảnh vật. Với họ thiên nhiên luôn tươi đẹp đầy sức sống và luôn thân thiết.

“Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn người đến chốn lao xao”.

Hai câu thơ này đọc lên như một vế đối, đối vế với vế, đối giữa ý tứ ngôn từ. Nhà thơ tự nhận mình là một người dại dột, dại vì lại tìm về nơi hẻo lánh, khuất lấp sống một mình. Dại vì nơi đó là nơi con người sống bình dị nếu không nói là nghèo khó. Còn người khôn người tìm đến nơi kẻ chợ thị thành người ngựa như nêm nơi cuộc sống tấp nập. Thế nhưng sâu xa bên trong đó lại có nghĩa ngược lại, thật ra chính nhà thơ mới là người khôn và kẻ tìm đến chốn quan trường mới là kẻ dại. Ấy là vì chốn quan trường là chốn tranh đua, con người thường vì tiền bạc lợi nhuận mà mưu toan hèn hạ, giành giật nhau. Chốn quan trường đầy loạn lạc, biến động, nó có thể khiến con người tha hóa, suy thoái theo. Trong bối cảnh đó việc giữ được mình thanh bạch là việc làm rất đáng khâm phục.

“Thu ăn măng trúc đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao”.

Hai câu thơ tiếp theo tiếp tục giống như hai vế đối đối nhau cả về từ và nghĩa. Những thức ăn nhà thơ ăn đều là sản vật của thiên nhiên đất trời. Đó không phải là sơn hào hải vị càng không phải là nem công chả phượng mà chỉ là măng là giá những thức ăn hết sức bình dị đơn sơ. Cuộc sống của nhà thơ là hòa mình vào thiên nhiên vào cây cỏ. Mùa xuân thì tắm hồ sen còn mùa hạ thì hòa mình vào làn nước ao làng trong lành. Cuộc sống như vậy hỏi những người đang ngày đêm đau đầu nghĩ cách hãm hại, tranh giành lợi lộc với nhau làm sao có thể tận hưởng.

Phân tích bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm

“Rượu đến cỏ cây, ta sẽ nhắp
Nhìn xem phú quí, tựa chiêm bao”.

Đến hai câu thơ cuối nhà thơ cuối cùng cũng bộc bạch rõ tâm sự của mình đó là không màng tới thế sự, phú quý. Dù là ở thời phong kiến hay thời buổi hiện đại những con người không màng danh vọng vật chất đều là nhưng con người rất đáng quý. Hỏi có mấy ai mà không bị cám dỗ bởi đồng tiền, chức tước, quyền lực. Thế nhưng đối với nhà thơ tất cả những điều đó lại như một giấc chiêm bao mà nhà thơ không muốn tranh giành. Ông thà chọn một cuộc sống nông nhàn đơn sơ mộc mạc còn hơn ở nơi áo gấm mà đua chen hèn mọn.

Triết lý sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm nhấn mạnh đến lối sống giản dị khiêm nhường không phải là sự hèn mọn chốn tránh. Nhàn ở đây là việc nhà thơ chọn cách sống nhàn chứ không phải là chọn chốn tránh thế sự. Ông chọn cuộc sống bình dị có thể nói là kham khổ nhưng luôn giữ cho tâm mình thanh tịnh. Điều đó khác biệt với việc mưu mô toan tính ở nơi quan trường thì dù có ăn ngon mặc đẹp đó cũng không phải là cuộc sống mà nhà thơ mong muốn. Nhà thơ sống ở đây nhưng không phải là không quan tâm tới nhân tình thế thái, thực chất dù rất quan tâm lo lắng nhưng ông không vì vậy mà cũng đẩy mình vào những phe cánh, lợi dụng của quan trường.

Phân tích bài thơ Quy hứng của Nguyễn Trung Ngạn

Phân tích bài thơ Quy hứng của Nguyễn Trung Ngạn

Phân tích bài thơ Quy hứng của Nguyễn Trung Ngạn

Bài làm

Nguyễn Trung Ngạn không chỉ là một vị quan với tài đức vẹn toàn mà Ông còn là nhà thơ với nhiều sáng tác nổi tiếng. Một trong số đó là bài thơ Quy hứng, bài thơ được ra đời khi Ông đi sứ tại Trung Quốc về. Cùng phân tích bài thơ Quy hứng để thấy được tình yêu thương, nỗi nhớ và mong muốn được trở về quê hương của Nguyễn Trung Ngạn. 

Nhà thơ Nguyễn Trung Ngạn hay còn gọi là Bang Trực với hiệu là Giới Hiên, quê ở tỉnh Hưng Yên. Ông còn là một danh thần của thời nhà trần, với tinh thần yêu nước da diết, Ông đã để lại cho đời rất nhiều bài thơ hay, đặc biệt là “Giới hiên thi tập”, trong đó điển hình là bài thơ Quy hứng. 

Phân tích bài thơ Quy hứng của Nguyễn Trung Ngạn

Bài thơ được viết với thể ngôn tứ tuyệt, thể hiện được nỗi nhớ của gia đình với niềm tự hào của người đang ở nơi đất khách quê người. Hai câu thơ đầu là những hình ảnh khiến cho người đọc hiểu được nỗi nhớ tha thiết: 

“Lão tang diệp lạc tàm phương tận
Tảo đạo hoa hương giải chính phi”

Dịch thành: 

“Dâu già lá rụng tằm vừa chín
Lúa sớm bông thơm, cua béo ghê”

Tình yêu được thể hiện rất đỗi bình dị, nỗi nhớ khi xa nhà được dâng trào lên lên thật xao xuyến. Tác giả nhắc tới các hình ảnh lá dâu cuối vụ có màu vàng sẫm bị rụng khắp nương bãi, lứa tằm thì vàng óng ngoài sân, lúa trổ trắng bông ngoài đồng có hương thơm ngào ngạt. Đây là những hình ảnh khiến cho người đọc nhớ tới một vùng quê đầy mộc mạc thân quen. Có thể thấy những hình ảnh này như một ký ức không thể quên được. 

Nguyễn Trung Ngạn đã sử dụng biện pháp nghệ thuật so sánh tương phản rất thú vị, bần diệc hảo hay còn gọi là nghèo vẫn tốt với Giang Nam tuy lạc. Khi ở nơi đất khách Giang Nam khi cuộc sống sung túc hơn nhưng vẫn không thể bằng ở nhà mình được. Điều này càng thể hiện tình yêu thương của tác giả với quê hương, gia đình rất sâu sắc. Nơi chôn nhau cắt rốn với tình cảm sâu nặng, dù cho tới Giang Nam là tới với nơi đô hội, phồn hoa nhưng không nhưng chẳng bằng về. 

Với giọng văn gần gũi và sâu lắng mang tới hình ảnh thơ mộng khiến cho bài thơ Quy hứng mang được sự đồng điệu với người đọc. Một người khi xa quê đều sẽ cảm nhận được cảm xúc khôn xiết khi phải xa nơi mình được sinh ra, nơi gắn bó cả tuổi thơ, nơi có những hình ảnh bình dị rất thân quen. Nguyễn Trung Ngạn thể hiện được toàn bộ nội tâm khi thấu hiểu qua từng câu chữ trong bài thơ.

Toàn bộ những hình ảnh của cua đồng béo ngậy, hình ảnh lúa chín vàng thể hiện rõ hình ảnh làng quê Việt Nam. Chính những hình ảnh thân quen được khắc sâu vào tâm trí của tác giả đã khiến cho Ông có một tình cảm mãnh liệt với con người, với quê hương. Trong hoàn cảnh của tác giả lúc này là muốn trở về nhà càng sớm càng tốt. Điều này càng thể hiện tinh thần tự hào dân tộc, lòng son sắc một lòng với quê hương đất nước. 

Qua phân tích bài thơ Quy hứng ta thấy được tình cảm thiêng liêng của tác giả dành cho quê hương. Nguyễn Trung Ngạn thể hiện được những khung cảnh quen thuộc để thấy được những nét bình dị, gần gũi. Với tài năng của một nhà thơ đa tài người đọc cảm nhận được toàn bộc lộ toàn bộ cảm xúc của tác giá và nỗi lòng của người con xa thứ. Bài thơ giúp cho những thế hệ trẻ nâng cao tinh thần yêu nước hơn, khiến người đọc thấy bình dị, thân quen và đi đâu thì cũng luôn tự hào với nơi mình được sinh ra. 

Bình giảng bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão

Bình giảng bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão

Bình giảng bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão

Bài làm

Từ xưa đến nay nhân dân Việt Nam luôn có tinh thần nồng nàn yêu nước, sẵn sàng bảo vệ đất nước khi có giặc ngoại xâm. Rất nhiều bài thơ văn trong đã được viết với mục đích thể hiện được những nét nổi bật của xã hội thời bấy giờ. Bài thơ Tỏ lòng cũng là một trong những tác phẩm nổi tiếng của vị danh tướng thời trần, người đã có công rất lớn trong cuộc chống với quân Nguyên Mông. Cùng bài viết sau bình giảng bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão để thấy được nét đẹp và khí thế của những con người thời nhà Trần nhé. 

Bài thơ được sáng tác lúc Phạm Ngũ Lão cùng một số vị tướng được cử tới vùng biên ải để trấn giữ đất nước. Lúc này nổi lên là hào khí Đông A, hào khí của thời nhà Trần, với các dấu mốc lịch sử của 4000 năm dựng nước và giữ nước của quân dân thời Trần cực kỳ kiên cường và anh dũng. Điển hình là 3 lần đại thắng quân Nguyên Mông. Đây cũng là công sức to lớn của những người đã có công vượt qua nhiều gian khổ để giành chiến thắng. 

Bình giảng bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão

Ngay từ câu thơ mở đầu đã hiện lên hình ảnh của người anh hùng với khí thế cực kỳ hiên ngang và vững chãi. Hình ảnh được thể hiện ở việc cầm ngang ngọn giáo đem trong mình sứ mệnh gìn giữ non sông. Con người không biết mệt mỏi khi được đặt trong không gian hùng vĩ của non sông và đất nước. Hình ảnh này không chỉ thể hiện ở tư thế hiên ngang mà còn là cả một tinh thần chiến đấu quật cường. 

Câu thơ tiếp theo sử dụng cách so sánh để toát lên khí thế của sức mạnh tam quân giống như hổ báo rất oai hùng. Tác giả đã bày tỏ rõ niềm tin về sự trưởng thành của quân đội, chính vì vậy tác giả đã phóng đại khí thôn ngưu hay còn gọi là khí thế hào hùng nuốt trôi trâu. Câu thơ với giọng điệu sôi nổi, hào hùng và dứt khoát khiến cho hình tượng của người anh hùng được hiện ra rõ nét. 

Hai câu thơ tiếp theo được tác giả nói tới quan điểm và lý tưởng sống của đấng nam nhi cần phải có tham vọng, chí khí và những hoài bão. Lý tưởng của người anh hùng được nói rõ trong câu “nam nhi và công danh”. Dù cho khó khăn và gian nan nhưng đã là nam nhi thì luôn phải cố gắng lập công, lập sự nghiệp để lại danh tiếng cho muôn đời sau. 

Chữ “nợ” được Phạm Ngũ Lão nhắc tới chính là nợ nước, nợ dân và nợ chính bản thân mình. Khi đất nước còn đang trong cảnh nước mất nhà tan thì người anh hùng sẽ cảm thấy phải hổ thẹn với các thánh nhân của lịch sử. Nỗi trăn trở được canh cánh ở trong lòng vì chưa trả xong nợ công danh đã ập đến bao nhiêu chiến công khác.

Bình giảng bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão ta thấy câu thơ cuối cùng của bài thơ nói tới cái tâm của người anh hùng, một tài năng, một nhân cách nhưng lại cần phải có cái tâm. Mặc dù chưa có nhiều chiến công với đất nước và nhà thơ đã thể hiện được thái độ và ý nguyện cháy bỏng để giết chết giặc ngoại xâm, lập nên sự nghiệp chung cho đất nước. 

Chỉ với bài thơ ngắn nhưng Phạm Ngũ Lão đã khắc họa rõ nét phong thái của người anh hùng khi ra trận để khuấy lên khí thế chiến đấu hừng hực. Với một đoàn quân cuồng phong, ra trận tạo ra sức mạnh phi thường khiến cho kẻ thù phải khiếp sợ. 

Có thể thấy sau khi bình giảng bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão chúng ta đã thấy được hết những tâm tư, lý tưởng sống và cả nguyện vọng của các đấng nam nhi trong xã hội. Đồng thời, đây cũng là cách để bày tỏ sự ngưỡng mộ tài năng của Phạm Ngũ Lão.